Tuesday, April 12, 2011

Làm giàu từ cây mít Thái


Ông Mười bên cây mít 5 năm tuổi.
Tại ấp Vĩnh Thuận, xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy, hầu như bà con nông dân nào cũng thán phục ông Mười Thông Tin, một nông dân sản xuất giỏi, chuyên trồng mít Thái Changai, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Tên thật của ông là Nguyễn Văn Mười, nhưng bà con quen gọi là Mười Thông Tin vì trước đây ông đã từng là cán bộ ngành văn hóa - thông tin ở địa phương. Ông Mười tâm sự: “Trước đây tôi đã trải qua nhiều nghề, từ đi buôn đến làm ruộng, làm vườn… có lúc trồng xoài cát Hòa Lộc, nghề nào tôi cũng quyết tâm, vắt óc ra làm nhưng kết quả không như ý muốn, khiến cho vợ chồng tôi nhiều đêm trăn trở, nên trồng cây gì, nuôi con gì cho có hiệu quả trên mảnh đất nhà. Thế là trong đầu tôi đã hình thành một ý tưởng nên chọn cây mít, vì đây là mặt hàng có giá trị kinh tế cao và đang tiêu thụ mạnh”.

Trước khi bắt tay vào công việc, ông đã chịu khó học hỏi, nghiên cứu và đi đó đi đây tìm hiểu về các giống mít, từ mít nghệ cao sản, mít Thái siêu sớm (tứ quý) cho đến mít Thái da xanh, mít ruột đỏ, mít Malaysia… giống nào cũng có ưu điểm riêng của nó. Tuy nhiên, làm thế nào để chọn cho được giống mít ngon, năng suất cao, chất lượng tốt, vừa ăn tươi vừa dùng để chế biến, đó mới là điều quan trọng. Vì hiện nay, tại Việt Nam, ngoài những giống mít cao sản bản địa còn có hàng chục giống mới nhập về từ nước ngoài, vàng thau lẫn lộn, có thứ cơm mỏng, có thứ cơm cứng, cơm nhão, lại có thứ xơ nhiều múi ít… rất khó phân biệt loại nào là ưu việt, loại nào phù hợp với đất đai, thổ nhưỡng cho từng vùng. Cuối cùng ông đã quyết định chọn mít Thái Changai để sản xuất.

Theo ông Mười, đây là giống mít dễ trồng, phát triển nhanh, trái sai, múi to, cơm dầy, hạt nhỏ, vỏ mỏng, thơm ngon và ngọt. Hiện nay, khách hàng rất ưa thích và các nhà máy sản xuất cũng chọn loại mít này để sấy khô nên người trồng không lo đầu ra và cũng không sợ bị rớt giá. Khởi đầu năm 2005, ông Mười đã chọn được 400 gốc ghép lấy từ Ô Môn đem về hạ thổ và cây phát triển rất nhanh. Từ niềm phấn khởi đó, ông tiếp tục trồng thêm đợt 2, nâng tổng số lên 1.000 gốc trên tổng diện tích là 16,5 công. Tất cả đều phát triển rất nhanh. Ông nhớ lại: Lúc mới mang mít giống về tới nhà, nhiều người cho rằng, ông không thức thời “trồng gì không trồng lại trồng mít, có trái rồi sẽ đem đổ sông, ai mà mua!”. Bây giờ thì thực tế đã chứng minh “cây mít” mà ông chọn trong thời điểm này không sai chút nào!

Chỉ sau một năm rưỡi là cây bắt đầu có trái chiếng, nhưng đợi đến cây hai năm tuổi, ông mới nuôi trái. Hiện nay, cây nào cũng ra trái no tròn, đều đặn, mỗi trái nặng từ 7-20kg, cá biệt có những trái trên 20kg. Tính bình quân mỗi gốc mít 4 năm tuổi cho khoảng 150 kg/năm, giá bán ra từ 10.000-15.000 đ/kg, tùy loại I, II và III. Tính ra mỗi gốc mít tối thiểu cũng thu về 1,5 triệu đồng/năm. Theo ông Mười, mít ra trái quanh năm, nhưng chỉ nên cho trái hai vụ/năm để cây có thời gian nghỉ ngơi. Thông thường, mỗi cây cho rất nhiều trái, thậm chí cả trăm trái nhưng cần phải tỉa bỏ những trái đầu cành và trên thân cao, chỉ giữ lại những trái ôm thân và sát gốc, tối đa khoảng 15 trái/cây nếu cây dưới 4 năm tuổi. Khi cây trưởng thành, số trái có thể nâng lên nhiều hơn.

Hiện nay, tại Hậu Giang chỉ có vườn mít Thái của ông Mười là trồng với số lượng lớn, sản lượng nhiều nhất. Những lúc cao điểm, mỗi ngày ông thu hoạch từ vài trăm kilôgam đến 1 tấn trái, nhưng không đủ để giao cho các bạn hàng chuyển đi các nơi, nhất là TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội. Ông Mười cho biết thêm: Tuy mít dễ trồng, nhưng phải thường xuyên chăm sóc, bón phân và theo dõi các loài sâu đục trái, đục thân, nhất là bệnh nấm hại cây trong vụ Đông xuân. Ngoài ra, sau mỗi lần hái trái, phải cắt bỏ bớt cành lá rườm rà để cây nhận đầy đủ ánh sáng giúp cho trái to và ngọt. Vì theo kinh nghiệm, mít càng lâu năm, trái sẽ ngọt đậm, thơm và giòn hơn mít tơ.

Có thể nói, vợ chồng ông Mười là những nông dân cần cù, năng động và chịu khó, dám đầu tư và quyết tâm tạo dựng cho khu vườn ngày càng sung túc. Bất cứ ai đến tham quan vườn mít của ông cũng đều ngợi khen đây là một vườn cây đầy ấn tượng, không những trái sai oằn, đầy đặn mà bờ liếp cũng khang trang, áp dụng đúng khoa học kỹ thuật, bảo đảm môi trường sạch đẹp. Với thành tích trên, ông Mười đã nhiều năm liền được chọn là nông dân sản xuất giỏi và vinh dự nhận được giấy khen của huyện Vị Thủy. Bà Lê Thị Thanh Hoa, Trưởng khối vận xã Vĩnh Tường, nhận định: “Ông Nguyễn Văn Mười là một nông dân cần cù, chịu khó, biết áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên vườn mít của ông năng suất rất cao so với nhiều nơi khác”.

Ngoài trồng mít, ông còn kết hợp thả cá trong ao mương và nuôi gà ta theo mô hình VAC. Đặc biệt, ông đã dùng mít non và mít tuyển bỏ rồi bằm nhỏ để làm thức ăn cho gà và cá nên chi phí giảm rất nhiều. Nhờ vậy, chỉ tính riêng tiền thu nhập từ cá và gà mỗi năm cũng trên 70 triệu đồng.

Monday, April 11, 2011

Làm giàu nhờ trồng ớt chỉ thiên

Ông Võ Văn Bé, còn gọi là Hai Bé, 54 tuổi, ở ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, An Giang là người khởi xướng cây ớt chỉ thiên ở địa phương này. Hiện nay ông đã có 1,5 ha trồng ớt chuyên canh, mỗi vụ lãi trên dưới 200 triệu đồng.


 


Ớt chỉ thiên ít bị sâu bệnh, chịu hạn tốt, ít công chăm sóc. Chỉ cần chú ý khâu thu hoạch: nếu không hái kịp ớt sẽ bị úng, bán mất giá (vừa ửng chín là thu hoạch). Các thương lái ở Campuchia vào tận ruộng mua ớt. Năm nay, đám ớt của ông Hai Bé cho năng suất trung bình 3 - 3,5 tấn/công/vụ, tăng hơn năm ngoái khoảng 500 kg/công bán cho lái 9.000 - 10.000 đồng/kg.
Năm 1989, Hai Bé được cha mẹ cho 2 công ruộng làm lúa, trong một lần đi đám giỗ thấy có người trồng loại ớt có trái hướng lên trời, ăn rất cay và có vị thơm, ông xin về làm giống rồi trồng trên 10.000 cây, năm đầu thu lợi trên dưới 6 triệu đồng. Sau đó ông đầu tư trên 10 triệu đồng...
Với 15 năm kinh nghiệm trồng ớt,  ông cho biết: Trồng cây ớt chỉ thiên cho thu hoạch kéo dài, luân phiên cách nhau một tuần lễ; thu hoạch xong, phải tưới nước, rải phân cho vun thành một lớp đất mỏng, để tạo độ ẩm cho bộ rễ phát triển; làm như vậy, cây ớt không bị mất sức.
Hiện nay ông đã có trong tay 1,5 ha chuyên canh ớt chỉ thiên, mỗi năm trồng hai vụ, trung bình mỗi vụ lãi ròng trên dưới 200 triệu đồng. Từ cây ớt, ông đã xây được căn nhà khang trang, mua xe tải nhỏ chở ớt chỉ thiên thu mua của những hộ lân cận để tập kết đem bán cho lái Campuchia.
Theo phòng nông nghiệp - phát triển nông thôn huyện An Phú, hiện nay huyện có chủ chương khuyến khích nông dân trồng màu, chủ yếu là cây ớt chỉ thiên, vì đất bãi bồi ở đây rất thuận lợi. Ớt chỉ thiên hiện đang có giá rất cao, tiêu thụ mạnh sang Campuchia và TP.HCM (trung bình mỗi ngày xuất qua biên giới hơn 10 tấn). Hiện nay, toàn huyện có trên dưới 100 hecta trồng ớt chỉ thiên, dự kiến năm tới sẽ mở rộng lên khoảng 150 hecta.

Wednesday, March 16, 2011

Một số điểm kỹ thuật trồng Bơ

Trong kỹ thuật canh tác cây bơ, vấn đề chọn giống và phối hợp giống là vấn đề cần có nghiên cứu ứng dụng và hướng dẫn của cán bộ chuyên môn. Như đã trình bày, tất cả các giống bơ (phần lớn) hiện đang cho thu hoạch là những giống lai, giống phân ly; do đó phải nghiên cứu tập tính nở hoa để bố trí giống thích hợp thuộc hai nhóm A và B, là công tác phải được tiến hành ngay để có thể phát triển nghề trồng bơ trong những năm tới. Tuy nhiên, một số điểm kỹ thuật chung có thể nêu ra như sau:

* Khoảng cách trồng: tuỳ theo chủng và giống đối với chủng Antilles và những giống lai, có thể trồng ở khoảng cách khá thưa: 8x8m hoặc 10x10m.

* Vấn đề xen canh: vào những năm bắt đầu trồng bơ, khi cây bơ toả tán chưa rộng, có thể trồng xen rau đậu nhưng không nên trồng cà chua, khoai tây vì nấm Verticilium có thể lan truyền cho cây bơ.

* Biện pháp giữ ẩm: giai đoạn còn nhỏ, bộ rễ bơ ăn cạn, cho nên vấn đề tưới giữ ẩm và phủ gốc là cần thiết để bơ không bị chết do nóng khô vào mùa nắng; nhất là đối với những vườn bơ trồng bằng cây ghép. Tốt nhất nên tưới phun và không nên tưới đẫm vào gốc.

* Bón phân: Tuỳ tuổi của cây giai đoạn cây còn nhỏ có thể bón theo công thức N - P2O5 - K2O với tỷ lệ 1-1-1. Ở cây lớn nên tăng tỷ lệ K2O và N lên theo tỷ lệ 2-1-2. Trước khi trồng và trong những năm đầu, nhất thiết phải bón phân chuồng hoai 10-20 tấn/ha.

* Vấn đề tạo tán: Tiến hành từ nhỏ đối với những giống cây cao để tạo dáng cây không cao quá 6m và cành toả đều về các phía. Việc cắt xén cành khô, cành vượt cũng phải thực hiện sau mùa thu hoạch để giúp cây sinh trưởng bình thường và ngăn ngừa không cho sâu bệnh lan tràn.

* Trồng cây chắn gió: thân cành bơ rất dòn, dễ gẫy, nên vấn đề trồng cây chắn gió rất quan trọng. Thường dùng cây dương liễu: (Casuarina equisetifolia) trồng dày cách hàng bơ bìa 6m để che gió và giúp cho đất thêm nhiều chất dinh dưỡng.

A. SÂU BỆNH
1. Sâu: Trên bơ có nhiều loài sâu hại:

- Sâu cuốn lá (Gracilaria percicae Busk): bướm thường đẻ trứng trên lá mới ra, trứng nở thành sâu và lớn dần lên theo lá, nhưng thông thường nhất là sâu nhả tơ cuốn lá lại để làm tổ. Sâu dài khoảng 10mm, xanh và có những lằn ngang không rõ rệt. Trưởng thành, sâu làm nhộng trong các tổ lá, nằm yên 5-7 ngày rồi vũ hóa.

Dùng các loại thuốc trừ sâu nội hấp để phun diệt trừ. Nếu có điều kiện, trước khi phun thuốc, nên gỡ bỏ các tổ lá do sâu cuốn lại để tăng thêm hiệu lực của thuốc.

- Sâu cắn lá: có rất nhiều loài, có hai loài đã được định danh là Seirarctia echo và Feltia subterrania F. Sâu ăn trụi lá làm chết cây con và làm giảm sức tăng trưởng cây lớn. Có thể tìm thấy sâu trên lá, trên cành hoặc vỏ thân cây. Ban ngày, sâu ẩn núp dưới gốc cây, đêm đến bò ra phá hại.

- Rầy bông (Pseudococcus citri Risse): rầy thường xuất hiện vào mùa mưa, chích hút nhựa lá và đọt non, quả non làm cây giảm sức tăng trưởng.

2. Bệnh: là đối tượng bảo vệ thực vật quan trọng trên cây bơ, gồm các bệnh hại sau:

- Bệnh thối rễ: do nấm Phytophthora cinnamoni gây ra, ở những chân đất có thuỷ cấp cao, nấm xâm nhập làm hư rễ chính (rễ cọc), sau đó nấm lan tràn phá huỷ cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang mầu xanh nhạt rồi rụng. Cành chết dần từ ngọn xuống thân chính.

Biện pháp phòng trừ:

- Chọn giống ghép và gốc ghép chống chịu bệnh. Không dùng hạt giống bị nhiễm bệnh và vườn ươm giống phải tuân thủ các biện pháp phòng chống bệnh phát sinh và lan tràn.

- Trồng bơ trên các loại đất có kết cấu tơi xốp, tầng đất canh tác đủ sâu, rút nước nhanh khi mưa.
- Tuyệt đối không dùng nước từ những vườn bơ bị bệnh để tưới.
- Phải tẩy uế nông cụ kỹ càng.
- Phát hiện kịp thời những vết thối trên thân, cạo sạch và quét sulfate đồng - vôi đặc. Khi cây chết vì bệnh, nên đào và huỷ bỏ để bệnh không lan tràn.

- Bệnh đốm lá (Cerocospora purpurea): bệnh hại lá và trái, nấm bệnh xuất hiện rải rác trên lá có hình dạng và kích thước gần giống nhau, hình có góc cạnh hoặc hơi tròn, mầu nâu. Những đốm này cũng có thể liên kết lại với nhau thành những mảng. Trên trái bệnh tạo nên những mụt lồi cỡ 5mm, có mầu nâu nhạt đến nâu đậm. Trái bị bệnh mất giá trị. Bệnh tồn tại trên lá già để phát tán khi có điều kiện thích hợp.

- Bệnh khô cành (Colletotrichum cloeosporiodes): nấm xâm nhập vào trên cành thường làm cành khô chết. Trên trái đã già, gần chín, nấm thường xâm nhập vào những chỗ do trái cọ sát hoặc bị thương tích hoặc do công trùng chích hút, ăn vỏ quả, làm cho trái bị nhũn (thường là ở phần cuối trái).

- Bệnh héo rũ: (Verticillium albo - atrum): cây bị nhiễm nấm thường đột nhiên bị héo lá trên một phần cây hoặc khắp cây. Lá bị chết rất nhanh, đổi thành vàng nhưng lá khó rụng. Nếu lột vỏ của cành hoặc rễ cây đã chết sẽ thấy những đường sọc mầu nâu ở phần tiếp giáp vỏ và gỗ. Sau thời gian vài tháng, mầm non phát sinh trở lại trên những nhánh chưa chết và trong vòng một hoặc hai năm, cây sẽ sống trở lại bình thường và không còn triệu chứng gì cả. Nấm tồn tại trong đất và gây bệnh cho nhiều loại thực vật ở bất cứ tuổi nào. Cây bệnh có thể chết luôn hoặc sống trở lại, đối với những cây bị bệnh một phần thì phần bệnh không thể cho trái trong vòng một hoặc hai năm. Thường áp dụng các biện pháp phòng trừ như sau:

- Dùng thuốc hóa học.
- Cắt xén kỹ khi cây vừa có triệu chứng bệnh, sau khi cây bị bệnh phục hồi, cắt bỏ những nhánh nhỏ, chết.
- Không dùng cành tháp của những cây đã bị bệnh, nên dùng gốc ghép là những giống thuộc chủng Mexico.

- Không nên xen canh hoặc luân canh bơ với các cây họ cà,...
- Không trồng cây trên đất kém thông thoáng, ẩm thấp và úng thuỷ.

B. THU HOẠCH VÀ SỬ DỤNG

Cây ươm hạt bắt đầu có trái sau khi trồng được 5 hoặc 7 năm. Cây tháp bắt đầu cho trái bói sau khi trồng 1 đến 2 năm, nhưng không nên duy trì để thu hoạch quả những năm đầu (3 năm trở lại); đến năm thứ 4 chỉ để một số trái tương xứng với hình vóc của cây; và năm thứ 5 khi tiềm lực cây đủ cho năng suất thì không tỉa bỏ trái nữa mà chỉ áp dụng cho những giống có khuynh hướng ra trái quá sức như Booth 8 chẳng hạn.

Sau khi cây trổ hoa được từ 6 -12 tháng thì trái chín, thời gian này tuỳ theo giống. Năng suất cũng biến thiên rất nhiều theo giống, nhưng năng suất bình quân thường 8-20 tấn/ha. Việc tiến hành thu hoạch, thời điểm hái trái sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phẩm chất cũng như điều kiện bảo quản, vận chuyển. Thông thường dựa vào màu sắc của da, nhưng ở Califorlia, người ta giám định hàm lượng dầu trong cơm.

Trái bơ có thể bảo quản lạnh hoặc ở nhiệt độ thường. Thông thường các giống bơ có thể bảo quản lạnh ở nhiệt độ 7 độ C, nhưng những giống thuộc chủng Antilles phải được bảo quản ở nhiệt độ cao hơn 12 độ C.

Trái bơ được sử dụng bằng nhiều cách, cách giản dị nhất là ăn với đường, sữa hoặc muối tiêu. Trái bơ còn được dùng như món rau salade hoặc trộn với rau diếp, đậu, cà chua, tương ớt... Trái bơ còn được cắt ra trộn vào canh để ăn khi còn nóng rất ngon. Trái bơ không thể để lâu hoặc đóng hộp được, tuy nhiên người ta còn dùng trái bơ để làm kem.

Trong kỹ nghệ, dầu trái bơ được dùng làm xà phòng hảo hạng và các loại mỹ phẩm cao cấp.
LIÊN HIỆP KHOA HỌC - SẢN XUẤT ĐÀ LẠT
Nguồn: Thông tin khoa học, công nghệ Lâm Đồng, số 3.1993

Trúng đậm vụ sầu riêng

Hiện nay, tại tỉnh Tiền Giang, sầu riêng đang vào vụ thu hoạch và có giá cao nên nhà vườn hết sức phấn khởi. Các giống sầu riêng chất lượng cao: Ri6, Monthong... đang được thương lái thu mua 30.000 đ/kg trở lên tùy thời điểm, cao hơn cùng kỳ năm trước trên 20%.
Theo ông Đặng Văn Trương, một nông dân giỏi chuyên canh sầu riêng tại xã Long Tiên, Cai Lậy, với giá trên, mỗi ha sầu riêng cho nguồn thu kỷ lục: 400 – 500 triệu đồng/ha. Tỉnh Tiền Giang hiện có trên 5.000 ha chuyên canh sầu riêng trong đó có khoảng 3.500 ha đang cho trái, tập trung tại các xã nằm ven sông Tiền của huyện Cai Lậy: Long Trung, Long Tiên, Tam Bình, Ngũ Hiệp, Hội Xuân... Đây cũng là địa phương có diện tích sầu riêng trồng tập trung lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long.
Thích hợp với thổ nhưỡng vùng đất bãi bồi phù sa mầu mỡ ven sông, dễ chăm sóc và cho năng suất cao, có giá trị kinh tế lớn, cây sầu riêng được xác định là một trong 7 loại cây ăn trái chủ lực của tỉnh Tiền Giang. Sầu riêng trồng tại đây chỉ sau 4 năm tuổi đã cho thu hoạch và 5 – 6 năm năng suất ổn định ở mức 30 – 40 tấn/ha.
Để giúp nhà vườn phát huy lợi thế cây sầu riêng tăng thu nhập, ổn định cuộc sống đồng thời tiến đến làm giàu, tỉnh Tiền Giang qui hoạch các vùng trồng tập trung theo ngưỡng hàng hóa chất lượng cao, chuyển giao kỹ thuật thâm canh tiên tiến, khuyến cáo tuyển chọn giống tốt có chất lượng cao và phù hợp với nhu cầu thị trường. Với giá sầu riêng tăng cao ngay từ đầu vụ, năm 2011 hứa hẹn những nhà vườn chuyên canh sầu riêng sẽ lên hương.

Wednesday, March 9, 2011

Trồng dứa cảnh

Nhiều địa phương của vùng ngập mặn huyện Tân Phước (Tiền Giang) đang triển khai mô hình trồng dứa phụng, một loại cây cảnh rất được thị trường ưa chuộng. Hiệu quả kinh tế từ loại cây này đã mở ra một hướng thoát nghèo mới cho người nông dân.
Dứa phụng (hay còn gọi là phụng cảnh) có hình như chim phượng hoàng, phân thành nhiều tầng, nhánh đủ màu sắc, được dùng làm cây cảnh hoặc chưng trong các mâm ngũ quả.
Nở hoa trên đất phèn
Tân Phước vốn là vùng đất chiêm trũng bị nhiễm phèn nặng của Đồng Tháp Mười. Thiên nhiên khắc nghiệt đã khiến cuộc sống người dân nơi đây thêm nỗi nhọc nhằn, vất vả. Người dân phải bôn ba khắp chốn để tìm hướng đi phát triển kinh tế, nhưng cái nghèo, cái khó vẫn đeo đẳng mảnh đất chua, phèn bao đời nay. Những năm gần đây, ở Tân Phước xuất hiện nghề trồng dứa phụng, loại cây cảnh có giá trị kinh tế cao. Người đầu tiên đưa giống dứa “lạ” này về trồng là ông Hà Văn Bảy (SN 1940, ấp Mỹ Lộc, xã Thạnh Mỹ, Tân Phước). “Vùng này quanh năm ngập nước chua mặn, chỉ có một vài cây trồng có sức chống chịu là sống được. Tình cờ tôi được một người thân ở Hậu Giang cho giống dứa cảnh, có hình thù đẹp, màu sắc lạ mắt nên đưa về trồng thử. Cây phát triển tốt trong điều kiện đất phèn chua mặn”, ông Bảy cho biết. Giống dứa phụng trồng rất công phu, đòi hỏi chế độ chăm sóc tỉ mỉ, đúng kỹ thuật mới cho trái đẹp, nhiều tầng nhánh có màu sắc lạ.
Ban đầu ông Bảy chỉ có ý định trồng chơi, bởi không kiếm được đầu ra cho giống cây cảnh lạ này. Nhưng chỉ qua hai mùa vụ, thương lái từ TP. Mỹ Tho đã xuống tận vườn nhà ông để đặt hàng. “Họ cần dứa phụng với số lượng lớn và trả giá rất cao cho những cây hoa đẹp, có hình dáng độc đáo. Dứa phụng được chia thành ba loại với ba mức giá khác nhau tùy vào số lượng nhánh con ở các tầng. Dứa loại I có giá trên 150.000 đồng/trái, loại II, loại III thì thấp hơn từ 50.000 – 100.000 đồng/trái”, ông Bảy nói. Với hơn bốn công đất canh tác dứa phụng, mỗi năm ông Bảy thu về gần trăm triệu đồng.
Từ một vài hộ trồng dứa phụng, đến nay toàn xã Thạnh Mỹ có gần sáu mươi hộ tham gia, trong đó tập trung chủ yếu ở ấp Mỹ Lộc. Dẫn chúng tôi đến thăm vườn dứa phụng của anh Nguyễn Hữu Soi (ấp Mỹ Lộc), một cán bộ nông nghiệp xã cho biết, trước đây vốn là vùng đất hoang hóa, nhiễm phèn nặng, bị bỏ hoang lâu ngày. Năm 2004, anh Soi cùng gia đình đến đây xin khai hoang và trồng dứa phụng. Qua gần sáu năm vật lộn, cải tạo đất, gia đình anh đã gây dựng nên một cơ ngơi khá giả giữa vùng sình lầy, ngập mặn. Anh Soi tâm sự: “Gia đình tôi có gần hai công đất trồng phụng cảnh. Mỗi năm trừ chi phí đầu tư chăm sóc, phân bón, tôi cũng thu về hơn 40 triệu đồng/năm. Sắp tới tôi dự định sẽ mở rộng diện tích canh tác và học hỏi thêm các khâu kỹ thuật lai, ghép tạo ra các loại dứa phụng có hình dáng độc. Phần diện tích trồng dứa thường sẽ dần được thu hẹp”.
Thấy được hiệu quả kinh tế của phụng cảnh, người dân bắt đầu chuyển đổi sang trồng phụng cảnh. Hiện nhiều diện tích ngập mặn, nhiễm phèn ở Thạnh Mỹ và các xã lân cận đang được cải tạo thành những vườn phụng cảnh đầy màu sắc.
Thương hiệu dứa phụng Tân Phước
Theo phòng NN & PTNN huyện Tân Phước, trong dịp tết Tân Mão vừa qua, cả huyện có hơn 1.200 chậu dứa phụng đạt chất lượng cao được thương lái đến đặt hàng, thu mua. Hiện phòng NN huyện đang phối hợp với Sở KHCN nghiên cứu, nhân rộng giống dứa phụng. Ngoài hỗ trợ về mặt kỹ thuật và con giống, phòng NN còn cung cấp phân bón và tập huấn nông dân các biện pháp chăm sóc, tạo nhánh, tạo cành…
Ông Nguyễn Văn Thọ, Phó Chủ tịch UBND xã Thạnh Mỹ cho biết: “Dứa phụng là loại cây trồng mới, lạ nhưng cho hiệu quả kinh tế cao và đang trở thành cây trồng chủ lực của xã. Phụng cảnh đã giúp nhiều hộ dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu trên mảnh đất quê hương. Chúng tôi đang có dự định xây dựng một vùng chuyên canh về phụng cảnh”. Hiện nay có nhiều doanh nghiệp từ TP.HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu… xuống liên hệ với địa phương để thành lập các vườn trồng phụng cảnh chất lượng cao. Nhưng đây là một loại giống hiếm, có nguồn gốc ngoại nhập nên kỹ thuật trồng và chăm sóc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dân gian. Xã đang phối hợp với phòng nông nghiệp huyện nghiên cứu lai tạo và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, ông Thọ nói thêm.
Trồng phụng cảnh đã mở ra một hướng phát triển mới cho người dân ở vùng phèn, mặn Tân Phước. Nhưng để cây dứa “độc” này có chỗ đứng trên thị trường, cần có một thương hiệu. Người dân và chính quyền Tân Phước đang nỗ lực để xây dựng thương hiệu cho loại dứa lạ này, nó sẽ là một cú hích về phát triển kinh tế cho toàn huyện.