Wednesday, January 5, 2011

Trị bệnh thối trái ớt dùng thuốc gì

Ở nước ta, nông dân trồng nhiều giống ớt, trong đó, phổ biến nhất là giống ớt sừng trâu (trái dài) và giống ớt chỉ thiên (trái nhỏ). Tuy nhiên, giống ớt chỉ thiên ít bị bệnh thối trái (nổ trái) do nấm: Colletotrichum spp, như ớt sừng trâu.

Bệnh thán thư lây lan mạnh vào mùa mưa, vì bào tử của nấm từ cây bệnh nhờ nước mưa phát tán khắp nơi. Bào tử nấm bệnh thán thư phát triển thuận lợi và dễ dàng xâm nhiễm vào trái ớt trong điều kiện ẩm độ từ 80 - 100 % và nhiệt độ từ 25 - 30 0C. Vết bệnh điển hình trên trái có dạng hơi tròn đến bầu dục, hơi lõm vào thịt trái, bệnh càng nặng vết lõm càng rộng, màu nâu xung quanh, ở giữa màu vàng cam đậm và có nhiều vòng đồng tâm.
Muốn phòng trị bệnh thán thư trái ớt một cách hiệu quả phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó biện pháp canh tác là rất quan trọng:
- Trước khi trồng cần thu gom cây, trái ớt hay cà chua của vụ trước, đem tiêu hủy để tránh làm nguồn bệnh lây lan cho vụ sau.
- Phủ bạt nilon trên mặt liếp trồng để hạn chế sâu bệnh hại từ đất bắn lên cây.
- Chọn giống sạch bệnh, ngâm hạt giống với dung dịch thuốc Carbenzim 50WP (pha 20 - 30 gr thuốc / 10 lít nước) trong 5 phút vì nấm bệnh thán thư có khả năng lan truyền qua hạt giống.
- Trồng ớt ở mật độ thích hợp, tránh trồng dầy vì sẽ tạo ẩm độ cao trong tán cây ớt là điều kiện cho nấm bệnh phát triển.
- Sử dụng phân bón hợp lý, tránh bón phân thừa đạm
- Khi cây ớt bắt đầu ra hoa đậu trái, không được tưới nước phủ từ trên tán cây xuống để tránh lây lan phát tán bào tử nấm. Cắt bỏ những nhánh ở dưới thấp, ngắt bỏ lá chân và những trái ớt ở gần mặt đất, vì đó sẽ là nơi giúp bào tử nấm bệnh "bắc cầu" để lây lan từ mặt đất lên cây. Nên sử dụng biện pháp tưới thấm, tưới gốc cho cây ớt.
- Sử dụng thuốc hoá học là biện pháp cuối cùng. Nấm bệnh thán thư cũng xâm nhiễm qua vết thương của côn trùng, vì vậy, cần phun thuốc trừ sâu (có thể sử dụng thuốc Dragon 585 EC hoặc Pyrinex 20 EC) để tránh sự gây hại của sâu ăn tạp.
Phun thuốc trừ nấm bệnh thán thư có thể áp dụng qui trình sau đây:
+ Lần 1 (trước khi cây bắt đầu ra hoa): Sử dụng thuốc tiếp xúc như Dipomate 80WP hoặc Cadillac 80WP với liều lượng 25 - 30 gr / bình 8 lít nước, phun đẫm lên tán lá.
+ Lần 2 (khi cây hình thành trái non) : Cũng sử dụng 1 trong 2 loại thuốc trên.
+ Lần 3 (cách lần phun thứ hai 7 ngày): Sử dụng thuốc Bendazol 50WP, liều lượng 10 - 15 gr / bình 8 lít nước, phun đẫm lên tán lá và trái ớt, đây là thuốc lưu dẫn vào trong cây và hiệu quả cao đối với nấm bệnh thán thư.
+ Lần 4 (cách lần phun thứ ba 7 - 10 ngày) : Phun thuốc Bendazol 50WP pha với Dipomate 80WP hoặc Cadillac 80WP để tránh hiện tượng nấm bệnh kháng thuốc.
+ Lần 5 (cách lần phun thứ tư 7 - 10 ngày) : Sử dụng thuốc Hạt vàng 250 SC với liều lượng 10 cc - 15 cc / bình 8 lít nước.
+ Những lần phun thuốc sau (nếu cần thiết): Có thể chuyển sang các thuốc có gốc Tebuconazole hoặc Chlorothalonil (Lý do chuyển đổi gốc thuốc là để tránh hiện tượng nấm bệnh kháng thuốc và giữ được hiệu quả của thuốc đối với nấm bệnh).
- Lưu ý: Khi phát hiện vết bệnh thán thư trên trái, cần ngắt bỏ, thu gom và tiêu hủy tất cả trái bị nhiễm để tránh lây lan mầm bệnh trong ruộng ớt. Mặt khác, sau cơn mưa đêm, nên tưới xả nước (tưới rửa) cho cây ớt vào sáng hôm sau và sử dụng thuốc Dipomate 80WP phun ngừa.

Sunday, January 2, 2011

Phòng trừ bệnh Panama cho chuối

Bệnh héo rũ Panama của chuối do nấm Fusarium oxysporumf sp.cubense gây ra. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn tăng trưởng nào của cây.Đây là một loại bệnh ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của chuối.
Triệu chứng:
Cây chuối bị nhiễm bệnh Panama thường có hiện tượng vàng từ lá già bên dưới sau lan dần lên các lá non. Triệu chứng vàng phát triển từ bìa lá và lan vào hướng gân lá. Lá bị bệnh thường héo, cuống gãy và lá treo trên thân giả, đôi khi cuống lá cũng bị gãy ở phần giữa phiến lá. Trên các lá già bị héo khô quanh thân giả, chỉ còn một số lá đọt xanh và mọc thẳng, các lá đọt này có màu xanh nhạt hay hơi vàng hoặc bị méo mó, nhăn nheo, cuối cùng bị héo úa.
Cây bệnh chết nhưng thân không ngã đổ, các bẹ ngoài bị nứt dọc, các chồi con vẫn phát triển chung quanh nhưng sau đó cũng bị héo rụi. Cắt ngang thân giả sẽ thấy các bó mạch bị đổi màu nâu vàng, cắt ngang thân thật (củ chuối) các mạch có màu đỏ nâu và bốc mùi hôi.
Nấm bệnh lưu tồn trong đất và các cây bệnh. Nấm có thể sống hoại sinh trong củ chuối và các bộ phận khác một thời gian dài, lây lan chủ yếu theo cây chuối con và đất có mang mầm bệnh. Nấm bệnh xâm nhập chủ yếu qua chóp rễ hoặc qua vết thương ở rễ. Sau khi xâm nhập, nấm sẽ phát triển trong mạch mọc làm cho cây bị vàng héo.

Bệnh thường gây hại nặng trên chuối xiêm, chuối dong.

Biện pháp phòng:
- Nên chọn đất có độ pH hoà và hơi kiềm để trồng chuối.

- Không dùng chuối con ở các vườn bị bệnh làm giống, gọt sạch rễ và đất ở gốc trước khi trồng.

- Nên bón vôi vào các hố trồng, có thể nhúng gốc chuối con vào dung dịch Bordeaux hay các thuốc gốc đồng như: Funguran, COC 85, Kocide...

- Khi phát hiện cây bệnh nên đào bỏ các gốc bệnh và rải vôi khử đất.

- Nếu vườn chuyên canh chuối mà bị bệnh nặng nên ngưng canh tác, cho ngập nước từ 2-3 tháng để diệt mầm bệnh.

- Tưới thuốc vào đất ở các vườn chuối con bằng các loại thuốc như Bendazol 50WP, Viben 50BTN, Fudazole 50WP...

- Vườn bị bệnh nặng nên đổi trồng các giống chuối khác không mắc bệnh như chuối cau, chuối cơm, chuối già hương...

Tuesday, December 28, 2010

Gột dê

Có dịp về xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội nghe chuyện nhiều người làm nghề nuôi vỗ béo dê thịt để cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn cho thu nhập khá tôi quyết định tìm hiểu cái công việc mà bà con ở đây quen gọi là nghề gột dê.
Người đầu tiên chúng tôi gặp là ông Lưu Văn Hiền ở xóm Đìa, khi ông đang cưỡi “con rim” Thái mới mua đuổi đàn dê gần 20 con lên chăn trên đồi cây sau làng. Ông Hiền kể: Nói là mới nhưng nghề này đã xuất hiện ở làng ngót nghét ba chục năm kể từ năm 1983. Bình Minh là xã thuần nông, vùng bán sơn địa, vừa có ruộng, vừa có đồi rừng thuận tiện cho việc chăn thả gia súc, đặc biệt là nuôi vỗ béo dê theo kiểu bán chăn thả kết hợp nuôi nhốt vừa để tận dụng sức lao động của các cháu, vừa có nguồn thức ăn xanh từ cỏ cây, phế phụ phẩm nông nghiệp sẵn có tại địa phương, tiết kiệm chi phí rất có hiệu quả.
Theo ông Hiền, nuôi gột dê không khó, chỉ cần biết cách và chịu khó là được. Mua dê gầy, yếu ở các tỉnh miền núi giá rẻ về tẩy giun, sán, tập trung chăm sóc, vỗ béo trong vòng từ 1 đến 4 tháng tùy độ tuổi và sức khỏe của đàn dê để rồi bán dê thịt với giá cao, đầu tư thấp mà thu nhập lại rất cao. Mỗi năm ông nuôi từ 3-4 lứa, lứa ít nhất vài chục con, lứa nhiều nhất lên tới 85 con như lứa vừa xuất bán tháng trước; năm ít thu lãi vài chục triệu, năm nhiều tới bốn, năm chục triệu đồng.
(Thông tin chi tiết xin xem trên Báo NNVN số 259 ra ngày 29/12/2010)

Monday, December 20, 2010

Giàu nhờ… dê!

Ngồi dưới tán cây tràm già, chỉ tay về phía đàn dê béo nục đang nhởn nhơ gặm cỏ, giọng anh Chín Nông Sơn đầy phấn khởi: “3 năm trở lại đây, nhờ nó mà cuộc sống của vợ chồng tui mới khấm khá lên được. Nếu cứ bám riết với mấy sào lúa không chủ động nước tưới ấy thì chắc nghèo cũng sẽ hoàn nghèo”.
Nhà nằm sát triền núi với một thảm thực vật phong phú, lại có trong tay cuốn cẩm nang hướng dẫn cặn kẽ kỹ thuật chăn nuôi dê, cuối tháng 3 năm 2007 anh Chín ôm 30 triệu đồng dành dụm bấy lâu vào Ninh Thuận mua 15 con dê giống (13 cái và 2 đực) về thả trên khu rừng keo lai rộng lớn của mình.
Thời tiết không khắc nghiệt, nguồn thức ăn trong tự nhiên dồi dào, cần mẫn chăm sóc, đàn dê của anh Chín Nông Sơn phát triển rất tốt. Cuối năm đó, 13 con dê cái đồng loạt có chửa. Và 5 tháng sau, vợ chồng người nông dân 43 tuổi này đón 26 con dê con ra đời. Anh Chín nhớ lại: “Nuôi bầy dê con đầu tiên ấy được chừng 17 tháng thì có một chủ quán nhậu nổi tiếng ở Tam Kỳ lên gạ mua trọn gói với tổng số tiền 35 triệu đồng nên tôi đồng ý bán để lấy tiền mở rộng quy mô trang trại”.
Theo anh Chín Nông Sơn, dê là loài vật nuôi rất… thèm đẻ. Chỉ sau 10 ngày sinh con là nó lại động dục, vì vậy mỗi năm 1 con dê mẹ đẻ được hai lứa, mỗi lứa khoảng 2-3 con dê con. Anh Chín Nông Sơn nhẩm tính: “Cứ bán lứa này lại nuôi giâm lứa khác, từ giữa năm 2008 đến nay vợ chồng tui đã xuất chuồng hơn 100 con dê thương phẩm rồi. Nói chú mừng, tới chừ thu hồi vốn xong, vợ chồng tui lãi ròng gần 170 triệu đồng đấy”.
Theo anh Chín, bình quân một con dê thịt trưởng thành cho trọng lượng khoảng 40 ký hơi, với giá bán ngay tại chuồng 1 ký hơi là 50-52 nghìn đồng thì tổng giá trị thu về không dưới 2 triệu đồng. Trong khi đó, dê chủ yếu ăn cỏ và các loại lá cây có vị thuốc ở trên rừng nên chi phí đầu tư cho nó gần như không tốn, chỉ mất công theo giữ và chăm sóc mà thôi.
Nhìn bầy dê tơ no tròn bụng đang đùa giỡn nơi góc núi, anh Chín Nông Sơn cười sảng khoái: “Giá dê thương phẩm đang nhích lên từng ngày. Từ nay đến giữa tháng chạp chắc chắn mỗi ký hơi sẽ ở mức 60 nghìn đồng. Cận tết Tân Mão này, chỉ cần bán 30 con thôi là vợ chồng tui đã ẵm về hơn 70 triệu đồng. Chừ nhà cửa đã đàng hoàng, tiện nghi cũng sắm hết rồi, chỉ lo tích cóp để nuôi mấy đứa con ăn học cho thành tài, chú ạ”.
Dịch bệnh trên đàn heo cứ xảy ra liên miên khiến cô Tám Trà My đâm chán. Đầu năm 2008, bán rừng keo lai được 40 triệu đồng cô Tám liền bắt xe vào Khánh Hòa mua 20 con dê Bách Thảo (90% là cái) về thả nuôi. Khác với anh Chín Nông Sơn, cô Tám Trà My không nuôi thịt mà mục đích chính là tạo nguồn con giống chất lượng cao để cung ứng cho thị trường trong và ngoài tỉnh.
Ngoài nguồn cỏ tự nhiên, cô Tám Trà My còn trồng hơn 2 sào bắp lai để làm thức ăn cho dê. Nhờ nắm vững kỹ thuật chăm sóc, chỉ sau 8 tháng về với đất Quảng Nam, bầy dê cái 18 con của cô Tám rủ nhau mang thai. Giữa tháng 2/2009, tất cả đồng loạt đẻ, cô Tám đón tổng cộng 40 chú dê con chào đời. Khí hậu thích hợp, ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, các loại dịch bệnh nguy hiểm không gây hại, cuối hè vừa rồi, khi trọng lượng mỗi con dê giống ấy đạt hơn 30 kg thì cô Tám Trà My đồng loạt xuất chuồng.
Cô Tám không giấu được niềm vui: “Nhà báo biết không, với giá bán bình quân mỗi ký dê hơi giống là 70 nghìn đồng thì tổng giá trị thu về từ bầy dê 40 con đó đã xấp xỉ 90 triệu đồng rồi. Có tiền, vợ chồng tui trích ra hai phần ba sửa lại căn nhà để kịp đón tết, số còn lại sẽ dành dụm cho lúc trái gió trở trời”. Cách đây mấy hôm, đàn dê cái của cô Tám Trà My lại tiếp tục đẻ, con nào con nấy cũng mập mạp và rất mướt lông, hy vọng rồi đây vợ chồng người phụ nữ một thời cơ cực này sẽ hốt thêm bộn tiền…
Ngồi trò chuyện với tôi, chú Hai Nông Nghiệp bảo rằng, nhờ giá cả quá hấp dẫn, lại rất dễ nuôi nên thời gian gần đây rất nhiều hộ dân ở những khu vực thuộc miền núi của Quảng Nam đã chọn con dê làm hướng phát triển kinh tế chủ lực. Và, có thể khẳng định, chính lối mở này đã giúp không ít gia đình trả lại… sổ nghèo.

Wednesday, December 1, 2010

Kỹ thuật trồng lúa cạn cho năng xuất cao

* Chọn giống: Nên chọn các giống lúa mới lai tạo có năng suất cao, chịu hạn tốt như các giống LC90-5; LC90-4; LC10-4; C22... 

* Thời vụ gieo: Từ 20/5 đến 20/6 cần gieo đúng thời vụ để lúa sinh trưởng phát triển tốt.
* Làm đất: Ở miền núi canh tác trên đồi có độ dốc lớn cho nên bà con cần ngăn chia lô ra nhiều khoanh nhỏ hẹp chiều ngang và chạy dài theo đường đồng mức, đắp bờ nhỏ cao 20-30 cm rãnh 30-40 cm theo đường vành nón.
- Cày xới và cuốc đất vài lần trước khi vào thời vụ gieo hạt làm cho đất tơi xốp, dọn sạch cỏ dại nhất là cỏ tranh, cỏ ấu, cỏ vừng và tàn dư thực vật khác.
- Xới xáo 2 - 3 lần, rạch hàng sâu theo đường đồng mức, khoảng cách gieo hàng cách hàng 20 cm, hốc cách hốc 8 - 10 cm, mỗi hốc gieo 5-8 hạt, đảm bảo mật độ 200 cây/m2.
* Gieo hạt : Với lúa cạn gieo khi độ ẩm đất đã bảo đảm cho hạt lúa nẩy mầm (18-32 % ). Không nên để hạt giống nằm lâu trong đất gây thối hoặc chim, chuột phá hại.
- Khi gieo hạt bà con nông dân nên gieo các hàng chạy theo đường đồng mức, dễ cho việc làm cỏ và chăm sóc. Không nên gieo vãi trên mặt ruộng vì như vậy thường tốn giống hơn và gây khó khăn cho việc chăm sóc làm cỏ sau này, sau khi gieo phải phủ một lớp đất mỏng dày 0,5-1 cm. 
* Chăm sóc, bón phân:
- Sau khi gieo 20-25 ngày lúa mọc cần tiến hành dặm tỉa, nhổ cỏ bằng tay hoặc xới bằng cuốc vào những ngày nắng.
- Phân bón cho lúa cạn rất cần vì đất trồng lúa cạn thường nghèo dinh dưỡng.
- Lượng phân bón cho 1 sào lúa cạn:
Phân chuồng hoai mục 300-500kg
Đạm 6-7 kg
Lân 10-15 kg
Kali 6-8 kg
* Cách bón:
- Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân + 2 kg đạm + 2 kg kali trước khi gieo hạt.
- Bón thúc đẻ nhánh 2kg đạm + 2 kg kali vào giai đoạn lúa 4 lá.
- Khi lúa bắt đầu làm đòng bón nốt số phân còn lại.
- Khi bón phân thúc cho lúa có thể kết hợp làm cỏ, vun xới.
* Sâu bệnh: Lúa cạn thường bị một số sâu, bệnh phá hại. Sâu đục thân, bọ xít dài, rầy xanh đuôi đen, sâu năn, sâu cuốn lá nhỏ,… Bệnh vàng sinh lý, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn. Bà con cần kiểm tra thường xuyên nương ruộng để kịp thời xử lý.