Thursday, November 11, 2010

Thần nông xứ dừa

Bằng khen Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam, giải nhì cuộc thi “sáng tạo kỹ thuật nhà nông” toàn quốc lần thứ 3, được Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam chứng nhận điển hình sáng tạo Việt Nam, đạt giải “Sao thần nông” năm 2009…, đó là thành tích đáng nể của ông Lê Văn Hoa (Hai Hoa), ấp Tân Phú, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
 
Kiện tướng bưởi da xanh
Đã bước qua tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông Hai Hoa vẫn còn rất khỏe mạnh. Kể về những ngày đầu khó khăn, vất vả, ông được cha mẹ cho mảnh vườn diện tích 5.000m2. Khu vườn này trồng các loại cây như quýt, cam, chanh... nhưng do cây đã già cỗi, lại chưa có được những kinh nghiệm chăm sóc cần thiết nên năng suất rất thấp. Quyết tâm phải tìm một hướng đi mang tính bền vững, cây trồng phải cho năng suất cao, chất lượng tốt, năm 1998 ông Hoa đã mạnh dạn phá bỏ vườn cây, chuyển đổi sang trồng giống bưởi da xanh ruột hồng.
Năm 2001, cây bắt đầu cho trái. Qua các đợt thu hoạch, ông Hai Hoa nhận thấy có sự khác biệt về mẫu mã, kích cỡ, chất lượng và có dấu hiệu suy giảm giữa các đợt trái. Sau những ngày miệt mài quan sát, so sánh, ghi chép, theo dõi diễn biến tăng trưởng của cây bưởi, ông Hai Hoa đã đưa ra kết luận, vị trí trái bưởi từ các nhánh nhện trong thân có tính ưu việt vượt trội so với các trái ngoài cành. Các trái nơi đây có mẫu mã đẹp, kích cỡ hợp lý, chất lượng tốt; quá trình mang trái cây vẫn tạo ra nhánh nhện mới, hình thái cây không có dấu hiệu suy kiệt, thời gian thu hoạch ngắn.
Chính vì thế, ông Hai thí điểm tỉa bỏ hết các trái ngoài cành, giữ lại những trái trên nhánh nhện; kết quả thu hoạch đạt chất lượng tốt, tuy nhiên số lượng chưa cao. Tiếp tục nghiên cứu khắc phục tình trạng trên, ông Hai áp dụng giải pháp xử lý ra hoa trên nhánh nhện theo 2 nhóm: nhóm 1 phun thuốc kích thích ra hoa, nhóm 2 tỉa bỏ lá. Kết quả nhóm 1 thời gian dài, tỷ lệ ra hoa từ 60 – 70%, nhóm 2 thời gian ngắn, tỷ lệ ra hoa đạt 100%.
Kết quả vượt trội của nhóm 2 đã mở ra bước ngoặc cho nghề làm vườn của gia đình ông Hai. Với sáng kiến điều chỉnh vị trí ra hoa, đậu trái trên cây bưởi da xanh theo ý muốn, ông Hai Hoa đã được Sở KH- CN tỉnh Bến Tre tặng Giấy khen năm 2005, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tặng Bằng khen trong cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật nhà nông” toàn quốc lần thứ nhất năm 2004 – 2005.
Không dừng lại ở đó, ông Hai tiếp tục gây bất ngờ cho các nhà nghiên cứu khoa học nông nghiệp với sáng kiến “chụp lưới lên chùm hoa” giúp bưởi da xanh không hạt. Giống bưởi da xanh vốn chất lượng ngon và không hạt. Tuy nhiên, do đặc điểm thụ phấn chéo với các cây có múi có hạt ở các vườn lân cận nên bưởi có hạt làm giảm chất lượng, uy tín.
Tìm tòi nghiên cứu học hỏi, áp dụng thí nghiệm trực tiếp trên cây bưởi của khu vườn, ông Hai đã xử lý thành công bưởi không hạt bằng kỹ thuật rất đơn giản: Khi chùm hoa bưởi ra có nụ trắng khoảng 3 ngày, dùng lồng kẽm chụp lên chùm hoa, lấy mảnh lưới bao quanh ngoài lồng kẽm, dùng dây cố định; trong vòng 24 giờ quan sát chùm hoa trở thành trái non thì tháo lưới và lồng kẽm.
Thân thiện mận An Phước 
Mận An Phước là giống mận quý, có năng suất và chất lượng cao, được bà con nông dân lựa chọn và phổ biến rộng rãi bởi mẫu mã trái to, vỏ có màu đỏ hồng bóng đẹp, trái không hạt, thịt giòn, ngọt, hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, chăm sóc, bảo vệ trái không phải là việc đơn giản. Trái mận có vỏ mỏng, ngọt nên rất dễ bị sâu, ruồi tấn công.
Vươn lên từ gian khó, mò mẫn tìm hướng đi, ông Hai Hoa thấu hiểu nỗi vất vả người nông dân. Ông luôn tâm huyết một điều là làm sao có thể mang hết những kinh nghiệm làm vườn của mình truyền đạt rộng rãi đến người nông dân. Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tư vấn, học hỏi kinh nghiệm, có thể liên hệ theo địa chỉ: Lê Văn Hoa, ấp Tân Phú, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; số điện thoại: 0987169014.
Để bảo vệ trái người nông dân thường áp dụng phun xịt thuốc trừ sâu với liều lượng và tần suất cao. Điều này làm phát sinh trường hợp sâu, ruồi kháng thuốc, bắt buộc người nông dân phải tăng liều lượng, tần suất (cách khoảng 5 – 7 ngày phải phun xịt thuốc trừ sâu ít nhất 1 lần) gây ô nhiễm môi trường và sự e ngại của người tiêu dùng. Trăn trở cùng với người nông dân, quan sát và thực nghiệm trên cây mận, ông Hai đã đưa ra kỹ thuật “bao trái mận” nâng cao năng suất, chất lượng theo hướng an toàn hiệu quả.
Khi cây ra hoa tuyển chọn những chùm có ưu thế giữ lại khoảng 50%. Hoa mận nở khoảng 3 – 4 ngày thì phun xịt thuốc trừ sâu, trị nấm 1 lần lên toàn thân và tán lá; từ 5 – 7 ngày quan sát hoa nở rụng râu và chạy nụ trái, dùng túi nilon trắng (cắt bỏ phần đáy), kích thước 30 x 40 cm cố định bao trùm trái theo hướng thẳng xuống. Trong quá trình bao trái, quan sát có đợt lá non phun ít thuốc trừ sâu bảo vệ lá để quang hợp, bảo vệ cây và tạo sức nuôi trái tốt.
Phương pháp này không chỉ tiết kiệm thời gian, chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Sẵn sàng giúp người khác làm giàu
Anh Lê Văn Quang ở xã Mỹ Thạnh An, TP Bến Tre cách đây 5 năm đã tìm đến ông Hai mua cây bưởi giống và được ông tư vấn kỹ thuật chăm sóc. Đến nay vườn cây của anh Quang đã sum suê trĩu quả, kinh tế gia đình phát triển. Anh cho biết: “Tôi thật sự bất ngờ khi tiếp xúc với chú Hai, một người nổi tiếng nhưng rất gần gũi, chất phác, nhiệt tình truyền đạt hết tất cả những kinh nghiệm biết được. Lần này quay lại đây tôi lại tiếp tục được học hỏi thêm nhiều sáng kiến độc đáo của chú”.
Anh Quang chỉ là một trong hàng trăm người nông dân được ông Hai Hoa tư vấn kỹ thuật. Bất cứ tổ chức hay cá nhân, lúc nào, ở đâu nếu có nhu cầu ông đều sẵn sàng đến tận nơi hướng dẫn, tư vấn "cầm tay chỉ việc" cho đến khi nào người nông dân làm được mới thôi.

Wednesday, November 10, 2010

Heo rừng, nhím, thu 1 tỷ/năm

Dưỡng Mập là cái tên thường gọi thân mật của Lầu Si Nịp, một chủ trang trại nuôi heo rừng lai và nhím ở thôn 5, xã Bình Long, Phước Long (Bình Phước). Từ việc nuôi heo rừng và nuôi nhím đã mang lại nguồn thu nhập cho gia đình anh 1 tỷ đồng/năm. 
Anh Dưỡng (người đi đầu) đang dẫn khách tham quan trang trại nuôi nhím của mình
Thuần dưỡng thú rừng
Hằng ngày phải chứng kiến cảnh heo rừng bị săn bắt và có nguy cơ bị tuyệt chủng, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ về heo rừng lại ngày càng tăng, tại sao không thuần dưỡng và nuôi heo rừng theo hướng kinh doanh, anh Dưỡng đã tìm mua được 6 con heo rừng con gốc (5 cái, 1 đực) từ các thợ săn về nuôi. Sau một thời gian, các con heo rừng đã quen với môi trường sống mới, nhưng có một điều khó khăn là chúng không chịu giao phối với nhau dù anh đã thử nhiều cách.
 “Lúc đầu thấy nản quá nên tôi định bỏ luôn”, anh Dưỡng nói. Nhưng với quyết tâm làm cho bằng được, anh thử cho heo cái đồng bào (giống heo sóc của đồng bào dân tộc thiểu số) vào sống với heo rừng đực gốc, thì chúng lại chịu “gần” nhau và cho ra đời những con heo rừng lai thế hệ F1. Nhưng mỗi lứa heo chỉ đẻ được vài con nên hiệu quả kinh tế không cao. Sau nhiều lần tìm kiếm thông tin, anh nhận thấy giống heo nái Móng Cái có khả năng sinh sản tốt, mỗi lứa sinh sản từ 10 -15 con, vậy là anh cho heo rừng đực thuần lai với heo nái Móng Cái.
Không ngờ thành công ngoài mong đợi. Hằng năm heo nái Móng Cái sinh sản đều đặn 2 lứa, mỗi lứa từ 10 - 12 con. Cứ thế, từ thế hệ F1 anh đem phối giống với heo rừng đực gốc để cho ra đời thế hệ lai F2, F3 rồi cuối cùng F4. Vốn là người ham học hỏi, không dừng lại ở đó, Dưỡng Mập còn rất thành công với việc thuần dưỡng nhím. Từ cặp nhím anh mua của thợ săn, lúc đầu chỉ để “làm cảnh”, nhưng thấy nhím cũng dễ nuôi, thị trường có nhu cầu cao, anh Dưỡng đã đầu tư nuôi, đến nay anh có hơn 170 con nhím, trong đó 80 cặp nhím đang tuổi sinh sản.
Hiệu quả kinh tế cao
Hiện nay anh Dưỡng bán heo thịt thì thường khoảng 30-60kg/con, còn heo giống thường khoảng 10-15kg/con. Về giá cả, heo thịt có giá từ 60.000 - 90.000 đồng/kg, heo giống từ 150.000 đến 200.000 đồng/kg. Chất lượng thịt heo tùy theo thế hệ, như thế hệ F1, F2 có máu heo rừng gốc là 50% và 75%, còn F3 và F4 tương ứng trên dưới 90%. Thịt heo rừng lai ít mỡ, thơm ngon nên rất được người tiêu dùng ưa chuộng.
 Ngoài cung cấp heo thịt, anh còn cung cấp heo giống cho thị trường trong cả nước. Mặc dù, tổng đàn heo lúc nào cũng trên 300 con, lúc cao điểm có trên 500 con nhưng vẫn không đủ hàng để bán. Còn về nuôi nhím, theo anh Dưỡng, nếu cung cấp thức ăn đầy đủ, một năm nhím sinh sản đều đặn 2 lứa, mỗi lứa từ 2-3 con. Nhím sau một năm nuôi có thể đạt 10-12 kg/con, trọng lượng tối đa một con khoảng 17 kg.
Hiện nay, theo giá thị trường một cặp nhím giống mới tách đàn là 8 - 12 triệu đồng. Còn về nhím thịt, nếu nuôi tốt thì trong 6 tháng có thể đạt 6kg/con và có giá 450.000 đồng/kg hơi. Theo tính toán của anh Dưỡng thì lợi nhuận từ việc nuôi heo và nuôi nhím hàng năm của gia đình anh không dưới 1 tỷ đồng.
Nuôi không khó
Theo Dưỡng Mập, vốn là động vật hoang dã nên thức ăn cho heo và nhím cũng đơn giản, chủ yếu là củ mì, khoai lang, chuối, cỏ voi, các loại rau, bầu, bí, dưa hấu, cám gia súc... Dẫn chúng tôi tham quan trang trại, anh Dưỡng Mập chỉ rõ từng khu riêng biệt được xây dựng một cách bài bản.
Heo rừng được nuôi trong 4 tiểu khu cho từng thời kỳ khác nhau: khu sinh sản, khu cho heo mới tách bầy, heo hậu bị và khu nuôi heo thịt. Tất cả heo ở đây được bấm tai đánh số hẳn hoi. Riêng với heo thịt thì nuôi theo hình thức bán chăn thả, xung quanh bao bọc bằng lưới B40, trong chuồng trồng các loài cây xanh để tạo bóng mát vì heo rất sợ nắng và rét.
Chuồng nuôi nhím, mỗi chuồng chỉ có diện tích 0,8 x 1,5 m để nuôi riêng từng cặp bố mẹ. Mặc dù heo rừng và nhím có sức đề kháng cao, nhưng nếu cho ăn thức ăn ôi, thiu và dính nước mưa thì chúng dễ bị bệnh tiêu chảy. Về chuồng trại cần phải thông thoáng, cần giữ vệ sinh tốt, hàng ngày phải quét dọn. Anh cho biết thêm, tuy việc nuôi heo rừng và nhím có tốn kém vì chi phí đầu tư ban đầu, nhanh thu hồi vốn, kỹ thuật nuôi cũng đơn giản vì vậy ai cũng nuôi được.

Tuesday, November 9, 2010

Người nâng tầm chè Thái

Trà hoa nghệ thuật độc đáo có thể nở trong nước thành những đóa hoa ngũ sắc rực rỡ, ngoài thưởng thức, trà hoa còn có tác dụng làm đẹp và tăng cường sức khỏe, giúp hưng phấn tinh thần. Sau nhiều năm trăn trở, chị Nguyễn Thị Nguyệt (phường Cải Đan, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên) đã cho ra đời sản phẩm trà hoa nghệ thuật được đánh giá là “siêu chè” này.
Từ nguyên liệu chè búp tươi Tân Cương đặc biệt, chị Nguyễn Thị Nguyệt (Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân trà Hạnh Nguyệt) đã sáng tạo ra một loại sản phẩm chè đặc biệt có tên "Trà hoa nghệ thuật". Sản phẩm trà hoa nghệ thuật còn được nhiều khách hàng gọi là "siêu chè Thái Nguyên" bởi sự công phu khi lựa chọn nguyên liệu, sản xuất và đặc biệt là giá bán sản phẩm lên tới trên dưới 10 triệu đồng/kg.
Giá bán siêu cao và hiện nay doanh nghiệp hoạt động hết công suất nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, chủ yếu là các khách hàng từ nước ngoài. Tại hội chợ ASEAN - Trung Quốc lần thứ 6 (năm 2009), sản phẩm trà hoa nghệ thuật của doanh nghiệp đã nhận được rất nhiều đơn đặt hàng của các thị trường khó tính. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp của Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Ý... đã đề nghị được bao tiêu toàn bộ sản phẩm, được độc quyền phân phối.
Đặc biệt hơn, các mẫu sản phẩm trà nghệ thuật của doanh nghiệp không trùng lắp với bất kỳ một loại trà nghệ thuật nào của Trung Quốc, Đài Loan hay Nhật Bản. “Đó chính là cơ hội để mình càng quyết tâm sáng tạo, mày mò và giới thiệu sản phẩm chè Việt Nam trên toàn thế giới”.
Vốn là người kinh doanh chè trong nhiều năm trước đây, chị Nguyệt luôn ấp ủ một dự định, mong muốn tạo ra dòng sản phẩm cao cấp để nâng cao giá trị của cây chè Thái Nguyên. Sau nhiều năm tự mày mò, nghiên cứu, không biết bao đêm trắng với những búp chè để thử nghiệm vẽ mẫu, tết hoa. Đến năm 2009, chị đã chính thức cho ra đời sản phẩm trà hoa nghệ thuật – đó là những bông hoa chè, loại chè ghép với các loại hoa: hồng, nhài, sen, cúc, mẫu đơn...
 Để làm được sản phẩm trà hoa nghệ thuật, việc đầu tiên là tuyển lựa chè búp tươi kỹ càng từ các hộ làm chè an toàn ở vùng Tân Cương (TP Thái Nguyên). Chè tươi nguyên liệu chủ yếu là các giống chè chất lượng cao như: Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, 777... Khi thu hái, doanh nghiệp phải đưa công nhân đến tận nơi, lựa chọn các búp chè "một tôm, hai lá" xanh non nhất rồi đưa về xưởng xử lý ngay trong ngày.
Khác với quy trình sản xuất chè thông thường, trà hoa nghệ thuật chủ yếu phải làm thủ công. Sau khi khử bớt vị chát của chè, mỗi công nhân tỉ mỉ xoắn từng búp chè rồi ghép lại thành từng bông hoa, mỗi bông nặng từ 3 đến 3,5 gam, vừa đủ để pha thành một ly to hoặc một ấm trà. Toàn bộ nguyên liệu làm trà hoa nghệ thuật đều là nguyên liệu tự nhiên 100%, ngay cả dây sử dụng để ghép từng búp chè cũng được làm bằng cỏ mần trầu - loại thảo mộc có tác dụng chữa bệnh.
Theo nhu cầu đặt hàng, có thể ghép chè với các loại hoa rồi ướp hương, tẩm sấy đủ 3 lần cho búp chè khô, hoà quyện với hương hoa nhưng vẫn giữ được màu sắc nguyên bản của các loại hoa. Bởi sự cầu kỳ trong quy trình sản xuất nên mỗi ca làm việc (8h đồng hồ), một công nhân lành nghề cũng chỉ làm được từ 20 đến 25 búp trà hoa nghệ thuật. Những công nhân làm trà hoa phải trải qua thời gian đào tạo ít nhất là 1 tháng.
Trước triển vọng của loại sản phẩm trà hoa nghệ thuật, Doanh nghiệp tư nhân trà Hạnh Nguyệt đang thực hiện dự án xây dựng NMSX trên 1 ha tại xã Vinh Sơn, thị xã Sông Công với tổng vốn đầu tư 15 tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 400 lao động địa phương. Để đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng, riêng dây chuyền làm trà hoa nghệ thuật cần tới 300 lao động. Ngoài sản phẩm trà hoa nghệ thuật, doanh nghiệp còn mở rộng sản xuất chè đặc sản truyền thống và trà nhúng cao cấp phục vụ xuất khẩu.
Dự kiến, nhà máy này sẽ hoàn thành và chính thức đi vào hoạt động trong quý II/2011. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng khẩn trương thực hiện việc đăng ký bảo bộ bản quyền sản phẩm tại thị trường trong nước và quốc tế.

Những lão nông lướt Web

Mô hình Câu lạc bộ cà phê khuyến nông ra đời đã trang bị những kiến thức khoa học, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp cho nhiều nông dân.
Sáng sớm, tại quán cà phê Khuyến nông của ông Võ Văn Manh ở ấp Hậu, xã Tân Thông Hội (huyện Củ Chi, TP.HCM) tập trung nhiều nông dân quanh khu vực đến uống cà phê, truy cập internet, đọc sách báo. Nơi đây trở thành địa điểm giao lưu học hỏi phương thức sản xuất, kinh doanh nông nghiệp giữa nông dân và các nhà khoa học.
Lão nông thời @
Thành lập từ tháng 4/2010, Câu lạc bộ cà phê Khuyến nông ở ấp Hậu được Trung tâm Khuyến nông TP.HCM trang bị cơ sở vật chất nhằm chuyển giao thông tin khoa học kỹ thuật cho bà con nông dân. Tại quán, có một máy vi tính kết nối mạng internet và một máy máy in cỡ nhỏ để các nông dân truy cập miễn phí. Ngoài ra quán còn được đầu tư một tủ sách với hơn 200 đầu sách về nông học và nhiều tờ bướm liên quan đến nông nghiệp.
Tranh thủ thời gian trước khi ra đồng, nhiều lão nông đã ghé vào quán vừa nhâm nhi ly cà phê vừa đọc báo và trao đổi kinh nghiệm sản xuất. Gác tạm cái cuốc sang bên, ông Nguyễn Văn Vĩnh, một hội viên của hội nông dân xã hồ hởi khoe: “Từ có khi có CLB cà phê khuyến nông, chúng tôi đã có một địa chỉ để tìm đến giải đáp những thắc mắc trong sản xuất, kinh doanh. Qua việc đọc báo, đọc các tài liệu hướng dẫn, cách thức chăm bón từng loại hoa cảnh, tôi đã có được những vụ bội thu”. Vụ hoa vừa qua, nhờ được tư vấn kỹ thuật và tìm được đầu ra, gia đình ông Vĩnh đã thu lời trên 50 triệu đồng.
Anh Võ Văn Bá, hướng dẫn viên tin học cho biết: “Bà con thường quan tâm tìm hiểu các thông tin về các loại giống cây, hoa vừa nhập khẩu về, cách chữa trị các loại bệnh cơ bản ở vật nuôi. Các thông tin này chủ yếu nằm ở các trang web của Trung tâm Khuyến nông hoặc từ các báo”. Dù không được học qua một lớp đào tạo tin học nào, nhưng lão nông Phan Quốc Minh lại rất “sành” khi truy cập mạng để tìm hiểu giá cả các loại rau quả ở các siêu thị. “Giá cả thay đổi mỗi ngày nên mình phải thường xuyên cập nhật để đưa ra mức bán hợp lý. Nhờ có mạng internet mà công việc làm ăn của tôi dễ dàng, thuận lợi hơn”, ông Minh tâm sự.
Để tạo điều kiện cho bà con tiếp cận nhiều với thông tin, vào sáng chủ nhật hàng tuần anh Bảy thường xuyên tổ chức các tiết học bổ trợ kiến thức tin học cho bà con. Thông qua những tiết học này, nông dân được dạy cách truy cập lấy thông tin từ mạng internet và in ra giấy làm tài liệu nghiên cứu. Ông Võ Văn Manh, chủ quán cà phê thống kê trung bình mỗi ngày quán đón gần 100 lượt khách là nông dân. Bà con thường đến quán vào thời điểm sáng sớm từ 4h – 8h, trưa 12h – 15h, chiều 6h – 8h. Ngoài việc học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, các lão nông còn giao lưu cờ tướng, cờ vua giải trí.
Làm giàu nhờ lướt nét 
Ông Trần Văn Chon, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Thông Hội cho biết: “Câu lạc bộ cà phê Khuyến nông ở ấp Hậu đang thu hút nhiều hội viên nông dân trong xã đến tham gia. Qua đây, nông dân được trang bị các kiến thức khoa học về chăn nuôi, trồng trọt… nên sản lượng nông nghiệp của xã trong thời gian qua luôn đạt cao. Nhiều hộ đã vượt lên làm giàu với quy mô sản xuất ngày càng mở rộng”.
Mô hình cà phê Khuyến nông đã phát triện rộng khắp nhiều huyện của TP.HCM như: Nhà Bè, Củ Chi, Cần Giờ. Người nông dân vốn quen với con trâu, cái cày nay đã bắt đầu sử dụng email, yahoo chat… để học hỏi kinh nghiệm sản xuất và tìm hướng ra cho sản phẩm của mình.
Với diện tích gần 1hecta chuồng trại, cơ sở chăn nuôi nhím của lão nông Hoàng Vĩnh Trọng là mô hình sản xuất kinh doanh điển hình của xã. Từ ngày tham gia câu lạc bộ, ông Trọng thường xuyên truy cập mạng để học cách chăm sóc, nuôi dưỡng nhím. Qua yahoo chat, ông làm quen và kết nối mối làm ăn với một hộ nông dân khác ở Bình Thuận. Ông cho biết: “Vừa rồi tôi có ra Bình Thuận tham quan mô hình nuôi nhím của bạn và ký được hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Đầu ra mình đã ổn, giờ chỉ lo phát triển đàn nhím, vệ sinh chống dịch bệnh”. Qua một lần xuất chuồng, ông thu về gần 300 triệu đồng. Đó là một số tiền “trong mơ” đối với những hộ nông dân khác trong vùng.
Từ quán cà phê Khuyến nông, chúng tôi theo chân anh Nguyễn Văn Tài – Chi hội trưởng Chi hội Nông dân ấp Hậu đến tham quan trang trại chăn nuôi bò sữa của anh Nguyễn Thế Minh. Từ chỗ chăn nuôi nhỏ lẻ, anh Minh đã mạnh dạn vay vốn, học cách chăn nuôi bò sữa theo quy mô công nghiệp. Anh tâm sự: “Qua đọc báo, đọc sách của Trung tâm Khuyến nông, tôi đã có thêm nhiều kiến thức để phát triển trang trại. Sắp tới tôi sẽ nhập thêm một số bò sữa ở nước ngoài về để làm giống”. Hiện trang trại của anh mỗi năm cho thu nhập hơn 200 triệu đồng.

Hấp dẫn trồng lan

Lần đầu đến thăm vườn lan của anh Phạm Văn Tuội ở đường Phạm Ngũ Lão, TP Cần Thơ, ấn tượng đầu tiên đập vào mắt tôi là toàn bộ giàn lan của anh đều được bố trí trên một mái nhà tôn cao 6 m. Tuy không gian nhỏ hẹp nhưng anh vẫn thiết kế lưới che, vòi phun một cách hợp lý và khoa học.
Anh là người say mê nghệ thuật nhiếp ảnh và hoa kiểng. Lúc đầu anh sưu tầm các giống lan với mục đích khám phá và thưởng thức. Không ngờ cây lan đã mang lại cho gia đình anh một lợi nhuận đáng kể nên không bao lâu anh đã chuyển sang kinh doanh. Anh cho biết lúc đầu chơi lan là vì yêu thích, nhưng càng gần gũi với hoa lan anh càng say mê không thể dừng lại được.
Hai năm đầu, với hơn 1.000 chậu lan rừng và lan ngoại nhập trồng trên mái nhà, mỗi tháng anh thu nhập từ 3 – 4 triệu đồng, gồm lan cắt cành và lan chậu. Sau khi tích lũy được nhiều kinh nghiệm, anh bắt đầu hợp đồng chăm sóc cho các vườn lan tư nhân và các cơ quan, xí nghiệp giúp anh tăng thêm lơi nhuận.
Từ thành công đó, đầu năm 2009 anh đã hợp đồng liên kết với một doanh nghiệp tư nhân xây dựng một vườn lan mang tên Cẩm Tú tại ấp Xẻo Cao, xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành - Hậu Giang. Đây là một vườn lan quy mô 10.000m2, với hơn 100.000 chậu, gồm đủ các loại: Dendro, Cattleya, Phalae, Oncidium. Mokara, Vanda… trong đó chủ lực là lan Dendro cắt cành.
Lúc khởi nghiệp, anh luôn săn tìm những cây lan đẹp. Bạn bè yêu thích lan cũng tìm đến anh để chia sẻ, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Để đạt đươc kết quả mong muốn, anh đã bỏ ra nhiều thời gian học hỏi và nghiên cứu tài liệu nên không bao lâu, anh đã nắm được bí quyết và kỹ thuật nuôi trồng hoa lan. Đến tham quan, nhiều bạn bè không khỏi ngạc nhiên là lan chậu nào cũng xinh đẹp, ít bị sâu bệnh, hoa nở sắc màu rực rỡ và vô cùng quyến rũ.
Anh cho biết, trong những năm gần đây, thị trường lan cắt cành tiêu thụ mạnh, không đủ để cung cấp, nhất là các ngày lễ, ngày Tết, ngày hội lại càng khan hiếm. Do đó, vườn lan Cẩm Tú của anh đầu tư tập trung cho lan cắt cành, bình quân mỗi tuần cắt trên 300 cành Dendro, giá mỗi cành từ 4.000 – 5.000 đồng, tùy theo bông nhiều hay ít. Ngoài lan cắt cành, anh Tuội còn bán lan con, lan lỡ và mở dịch vụ cho thuê.
Nếu tính theo thời giá hiện nay, bình quân mỗi cây trưởng thành (đang ra hoa) có giá từ vài chục ngàn đến 200.000 đồng. Vườn lan của anh gồm nhiều lứa tuổi, nhiều chủng loại nên mùa nào cũng có hoa để cung cấp cho khách hàng ở khắp các tỉnh ĐBSCL và TP.HCM.
Lan là một mặt hàng có giá trị nghệ thuật và kinh tế cao nhưng không phải ai cũng trồng có hiệu quả. Muốn thành công, nó đòi hỏi người trồng phải có óc say mê, cần cù chịu khó. Gần một thập kỷ nay, trong số hằng trăm nghệ nhân trồng lan ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, số thành công đếm chưa đầy đầu ngón tay, thậm chí còn có người trắng tay.
Theo anh Tuội, bí quyết của nghề trồng lan là phải chọn cho được giống tốt, sạch bệnh. Người trồng phải tuân thủ các quy trình kỹ thuật một cách nghiêm ngặt. Đối với cây lan không chỉ có giống, phân, cần, nước là cây cho hoa mà điều quan trọng nhất là ánh sáng, môi trường và độ ẩm thích hợp. Cùng một loại phân, cùng một loại thuốc nhưng có thể thích hợp với môi trường này mà không thích hợp với môi trường khác.
Theo anh cây trồng trong chậu đất nung dễ bị thối rễ hơn trồng trong chậu nhựa. Do vậy, người trồng phải biết áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc từ cây cấy mô đến cây trưởng thành. Kinh nghiệm của anh là dùng các loại phân pha chế sao cho phù hợp với từng loại lan và từng lứa tuổi.
Nhờ thực hiện đúng phương châm “phòng bệnh hơn trị bệnh” nên vườn lan của anh lúc nào cũng xanh tươi mơn mởn, đặc biệt hạn chế được tối đa các loại bệnh vàng lá, thối rễ, rệp sáp và phấn trắng. Đó là những loại bệnh phổ biến mà người trồng lan nào cũng điêu đứng, khổ sở vì chúng.